Lỗi thường gặp trong khi làm bài tập CFA

Những ai trong ngành tài chính không thể không biết đến chứng chỉ phân tích tài chính (CFA)... và bài viết dưới đây chia sẻ với các bạn về những lỗi thường gặp khi làm bài tập CFA.

Đây là những LỖI thường gặp trong khi làm bài tập CFA (thường là ở Level 1), từ những nguồn trên mạng lượm được và cả “kinh nghiệm xương máu” của bản thân mình tổng hợp+dịch lại cho các bạn, tất cả thuật ngữ trong tài liệu học cfa mình đều giữ lại và không việt hóa (để trong “ “ hoặc trong ngoặc) vì bạn phải quen để khi đọc câu hỏi thật không bị bỡ ngỡ. Theo đánh giá chủ quan thì những LỖI ở trên thì thường gặp hơn, càng xuống dưới thì càng hiếm gặp.



Khuyên các bạn nên coi lại nhiều lần, không phải là các bạn không biết mà tại vì quá tự tin mình đã biết nên dẫn đến chủ quan, mất điểm không đáng có.




Và nhớ đây là “LỖI SAI” chứ không phải là “CHÂM NGÔN ..Có vài chỗ mình cũng không hiểu lắm, có gì mọi người góp ý và hoàn chỉnh nhé. Mình để số thứ tự để tiện cho việc trích..

Vì quá nhiều mục nên tránh việc nhìn quá rối mắt thì mình sẽ chia ra nhiều bài post cho các bạn (không phải ad câu post đâu nhé )

    Quên không chuyển sang chế độ BGN (BEGIN – Annuity Due)

    Tính zero-coupon bond mà không chuyển qua “semi-annual” (nhầm N và I/Y)

    Không nhân đôi I/Y của “semi-annual” trong khi bài toán yêu cầu tính “annual yield”

    Nhập sai thời gian chiết khấu (discount period): ví dụ: nhập vào 5 năm thay vì 4 bởi vì câu hỏi về việc thanh toán đầu/cuối năm.

    Quên căn bậc 2 “Variance” để tính “standard deviation” (đâu là lỗi chủ quan, sau khi bấm máy tính từ một dãy phép tính dài, ra kết quả các bạn chủ quan + bẫy câu trả lời => sai)

    Chủ quan khi không đọc câu hỏi kỹ, đã cho “market premium” thì không cần phải trừ “risk free rate” nữa.

    Tự mặc định là “normal distribution” không khi câu hỏi không hề đề cập tới (dẫn đến việc bạn ngộ nhận một số tính chất của hàm “normal distribution” như: “symmetric”,…=> thường là những câu hỏi về % biến nằm trong vùng nào, lúc đó thì chỉ cần sử dụng “Chebyshev's inequality”)

    Quên những thuật ngữ đồng nghĩa như: coupon rate=nominal rate, market maker=specialist.

    Không cẩn thận với những câu hỏi đánh lừa giữa “sample” và “population”

    Nhầm lẫn về việc sử dụng đường SML để xác định “undervalue” hay “overvalue” nhờ so sánh “Estimated return” và “Required Return” (nên nhớ ở TRÊN (BÊN TRÁI) đường SML thì là UNDERVALUED)

    Nghĩ rằng khi “Covariance1” lớn hơn Covariance2 thì nghĩa là sẽ có “stronger relationship”, nhưng thực chất phải sử dụng “Correlation” mới có thể chuẩn hóa được sự so sánh này (vì còn yếu tố standard deviation)

    Quên việc phải trả thuế cho phần lãi suất ẩn (implicit interest) cho” Zero-coupon bond”, đây chính là Disadvantage của “STRIPS”

    Không phát hiện ra trong một số câu hỏi, đằng sau những công thức toán học phức tạp trong khi hoc cfa thì bạn có thể giải nó chỉ bằng một sự suy luận nhanh + đáp án từ phần multiple choice (ví dụ: “realized rate of return” chắc chắn sẽ nằm giữ YTM và “Reinvestment Rate “(đối với những câu hỏi không đề cập tới việc Reinvestment rate=YTM)

    Quên rằng trong FRA (Forward Rate Agreement) thì bên LONG sẽ có lợi khi lãi suất tăng.

    Quên rằng việc trả Swap là ở cuối kỳ.

    “Equity margin” = borrowing (hai thuật ngữ này hoàn toàn khác nhau: security margin sẽ khác margin trong Derivative(cụ thể là phần Future, v.v…)

    Xem bất kỳ yếu tố gì liên quan tới bất động sản (real-estate) sẽ là “real estate investing” (ví dụ như MBS/CMO không thuộc real-estate investing, mặc dù pool of assets có bao gồm real-estate)

    Giá trị thị trường (market value) của real estate không bằng giá trị đầu tư (investment value).

    Khấu hao kinh tế (economic depreciation) và khấu hao kế toán (accounting depreciation) hoàn toàn khác nhau. Eco. Depreciation thì về giá trị còn Acc. Depreciation thì về sự phân chia.

    Vứt bỏ hoàn toàn “Duties to employers” khi bảo vệ khách hàng/thị trường (liên quan tới Whistleblower –không nên lạm dụng/làm quá)

    Tài nguyên không thể tái tạo được (non-renewable resources) có elastic supply

    Đất không khấu hao được

    Đối với “operating lease” thì “working capital” sẽ cao hơn. Trong trường hợp “capital lease” thì “Current liability sẽ tăng một khoảng bằng “lease obligation” mà không hề tăng trong “current asset”

    Market risk = systematic risk = non-diversifiable risk = rủi ro được bồi thường

    “Sinking fund provision” là “obligation” chứ không phải là quyền đối với khoảng nợ hoàn trả tiền vay (right to pay-down debt).

    Khi OAS < z-volatility spread thì option này có lới với người phát hành và đó là call option.